10 bài thơ hay nhất của Hồ Xuân Hương

Đánh giá bài viết:

Nhắc đến nhà thơ Hồ Xuân Hương - là nhắc đến một nữ sĩ hiếm hoi trên thi đàn văn học Việt Nam. Với phong cách sách tác hiện đại, phóng khoáng và vô cùng cá tính, Hồ Xuân Hương đã gây ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người yêu thơ. Bà đã để lại cho nền văn học nước nhà những tác phẩm thơ Nôm bất hủ và lưu truyền mãi mãi đến đời sau. Người đời còn suy tôn bà là "Bà chúa thơ Nôm". Sau đây, Tikibook xin giới thiệu với bạn đọc đôi nét về cuộc đời, sự nghiệp và 10 bài thơ hay nhất của Hồ Xuân Hương!

Đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Xuân Hương

Cuộc đời

Hồ Xuân Hương sinh năm 1772, mất năm 1822. Bà sinh ra tại Hương Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An, xứ Bắc Hà (nay thuộc tỉnh Nghệ An). Năm 13 tuổi, phụ thân của Hồ Xuân Hương qua đời, bà theo mẹ về làng Thọ Xương đi học rồi ở nhà giúp việc. Hồ Xuân Hương có một tuổi thơ êm đềm ở dinh thự Cổ Nguyệt đường ven hồ Tây - nơi xa hoa bậc nhất Đàng Ngoài.

Sau khi mãn tang chồng, mẹ của Hồ Xuân Hương tái hôn với người khác. Mặc dù, khi đó cuộc sống của con người ta luôn bị ràng buộc bởi những lễ giáo phong kiến nặng nề nhưng Hồ Xuân Hương luôn vượt lên tất cả để bộc lộ tư chất thông minh, ham học. Bà luôn nỗ lực để có được cuộc sống tự do, tự tại, thong dong và thư thả.

Cũng giống như bao người con gái khác thời phong kiến, Hồ Xuân Hương được cưới gả từ khá sớm, nhưng cuộc sống hôn nhân của bà không được viên mãn. Cuộc hôn nhân đầu của bà đó là khi bà được cưới gả về làm vợ lẽ của Tổng Cóc - một cai lính thuộc dòng dõi văn nhân. Nhưng do sự ghen tuông của vợ cả cùng với bản tính phóng đãng của Tổng Cóc nên Hồ Xuân Hương đã quyết định bỏ đi và để lại một lá thư từ biệt. Tuy nhiên, khi bỏ đi bà lại đang mang thai con của Tổng Cóc và sau khi sinh con thì Tổng Cóc có đến đòi lại con. Nhưng bất hạnh thay, con gái Hồ Xuân Hương chỉ sống được 3 tháng rồi chết yếu (Cũng trong hoàn cảnh đó mà bà đã sáng tác bài thơ "Khóc Tổng Cóc" - coi như hai người đã đoạn tuyệt tình nghĩa phu thê).

Sau đó Hồ Xuân Hương kết hôn lần thứ 2 với ông Phủ Vĩnh Tường, tức là Tú tài Phạm Viết Ngạn và sinh cho ông một đứa con tên Phạm Viết Thiệu. Nhưng chỉ hơn hai năm sau thì người chồng này của Hồ Xuân Hương cũng tạ thế.

Hồ Xuân Hương đã phải đối diện với những bi kịch đau đớn của cuộc đời. Và những nỗi đau đớn ấy đã lắng đọng trên từng trang thơ sắc sảo của bà mà không ai có thể thay thế được.

Sự nghiệp thơ văn của Hồ Xuân Hương

Năm 1964, học giả Trần Thanh Mại đã phát hiện ra tập thơ mang tên "Lưu hương ký" mang bút danh của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, với 24 bài thơ chữ Hán và 28 bài thơ Nôm. Thơ của Hồ Xuân Hương thường được viết bằng chữ Nôm theo thể thơ thất ngôn bát cú hoặc thất ngôn tứ tuyệt. Ý thơ luôn độc đáo, táo bạo, thậm chí còn là điều cấm kị trong lễ giáo phong kiến thời xưa. Bà không ngại diễn tả thực trạng tang thương và quá trình mục rữa, thối nát của cả con người và xã hội ở thời đại phong kiến mà bà đang sống. Chính vì thế mà Hồ Xuân Hương được suy tôn là "Bà chúa  thơ Nôm"

Tác phẩm tiêu biểu

Một số tác phẩm thơ nôm đặc sắc của Hồ Xuân Hương như: Bà Lang Khóc Chồng, Bạch Đằng Giang Tạm Biệt, Bài Ca Theo Điệu Xuân Đình Lan, Duyên Kỳ Ngộ, Bánh Trôi Nước, Tự Tình, Cái Quạt, Cảnh Làm Lẽ, Cái Quạt Giấy 1, Cái Quạt Giấy 2...

Tưởng nhớ

Với những đóng góp to lớn của bà đối với nền văn học, thơ ca nước nhà, cái tên Hồ Xuân Hương đã được mọi người đời đời ghi nhớ bằng cách đặt tên bà cho một hồ nước lớn trung tâm Đà Lạt, cũng có rất nhiều con đường lớn mang tên Hồ Xuân Hương. Đặc biệt tác phẩm "Bánh Trôi Nước" - Hồ Xuân Hương được giảng dạy trong môn học Ngữ Văn 7, cấp THCS. Và bài thơ "Tự Tình II" - Hồ Xuân Hương được đưa vào môn học Ngữ Văn 11, cấp THPT.

Sau đây Tikibook xin giới thiệu mới bạn đọc Top những bài thơ hay nhất của Hồ Xuân Hương nhé!

1. Bánh trôi nước

Thân em vừa trắng, lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

Bài thơ Bánh trôi nước - là một bài thơ vô cùng nổi tiếng của Hồ Xuân Hương, hiện bài thơ đang được giảng dạy trong chương trình Ngữ văn lớp 7. Với hình tượng chiếc bánh trôi nước -  có màu trắng, hình tròn, khi nước sôi - bánh được thả vào và lúc chín sẽ nổi lên trên mặt nước, Hồ xuân Hương đã nói lên được vẻ đẹp, phẩm chất trong trắng, sắt son của người phụ nữ. Mặc dù, số phận của người phụ nữ bị phụ thuộc vào tay kẻ khác (hay như chính chiếc bánh phụ thuộc vào tay người nặn) nhưng vẫn quyết bảo vệ tâm hồn trong sáng của mình. Qua đó, khẳng định giá trị của người phụ nữ và mong ước sẽ có sự bình đẳng giới vào một ngày không xa.

Bánh trôi nước - Hồ Xuân Hương

Hình ảnh chiếc bánh trôi, trắng và tròn

2. Tự tình 1

Tiếng gà xao xác gáy trên vòm
Oán hận trông ra khắp mọi chòm
Mõ thảm không khua mà cũng cốc
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om
Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ
Sau hận vì duyên để mõm mòm
Tài tử văn nhân ai đó tá
Thân này đâu đã chịu già tom.

Bài thơ Tự tình 1- Hồ Xuân Hương

Bài Tự Tình 1 - là một bài thơ rất hay và để lại nhiều cảm xúc đặc biệt trong lòng người đọc. Qua bài  thơ, nhà thơ Hồ Xuân Hương đã thể hiện sự xót xa của mình trước duyên phận hẩm hiu, trước sự bất hạnh của người phụ nữ trong kiếp sống làm vợ lẽ, đơn côi, cô lẻ. Không những thế, Hồ Xuân Hương còn thể hiện niềm khát khao về hạnh phúc, khát khao có một cuộc tình ấm nồng, thoát ra khỏi nghịch cảnh xã hội đương thời.

3. Tự tình 2

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con!

Tự tình - Hồ Xuân Hương

- Bài thơ Tự Tình II, cũng là một bài thơ độc đáo, ấn tượng làm nên tên tuổi của Hồ Xuân Hương. Bài thơ hiện đang được giảng dạy trong môn học Ngữ văn lớp 11.

- Nội dung chính của bài: Bài thơ thể hiện một tâm trạng, một thái độ vừa đau buồn, vừa phẫn uất trước duyên phận, dẫn đã nỗ lực, gắng gượng hết sức để vương lên nhưng kết cục vẫn rơi vào bi thảm. Ngoài ra, bài thơ còn thể hiện một khát vọng sống, khát khao hạnh phúc và tài năng độc đáo của "Bà chúa thơ Nôm" - Hồ Xuân Hương trong các sử dụng từ ngữ và xây dựng hình tượng.

4. Vịnh cái quạt

Một lỗ xâu xâu mới cũng vừa
Duyên em dính dán tự ngàn xưa
Chành ra ba góc da còn thiếu
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa
Mát mặt anh hùng khi tắt gió
Che đầu quân tử lúc sa mưa
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng:
“Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?”

Vịnh cái quạt - Hồ Xuân Hương

Bài thơ Vịnh Cái Quạt có lẽ chính là bài thơ được yêu thích nhất của "bà chúa thơ Nôm" - Hồ Xuân Hương. Nghĩa thực của bài thơ chính là kể về một chiếc quạt giấy nan tre được xâu lại và dính dán thành một mặt phẳng có thể xòe ra khép vào. Chiếc quạt có tác dụng làm cho cơ thể ta mát mẻ, sảng khoái trong thời tiết oi bức. Nhưng càng đọc chúng ta sẽ thấy đó không còn là một chiếc quạt bình thường mà đây là hình tượng đã đi vào đời sống của mọi người kể từ anh hùng, quân tử đến mọi người dân đều được hưởng cái mát mẻ, thưởng thức cái sung sướng, được âu yếm và coi chiếc quạt như một vật báu của mình. Hơn nữa chiếc quạt cũng được nhân cách hóa thành hình tượng những điều thầm kín khó nói thành lời chỉ ở chốn phòng the. Đó là cái tài cao siêu mà Bà chúa thơ nôm đã kiến tạo ra.

5. Hỏi Trăng

Một trái trăng thu chín mõm mòm,
Nảy vừng quế đỏ đỏ lòm lom!
Giữa in chiếc bích khuôn còn méo,
Ngoài khép đôi cung cánh vẫn khòm.
Ghét mặt kẻ trần đua xói móc,
Ngứa gan thằng Cuội đứng lom khom.
Hỡi người bẻ quế rằng ai đó,
Đó có Hằng Nga ghé mắt dòm.

==> Đại ý bài thơ:
(1-2): Giới thiệu hình ảnh và màu sắc đặc biệt của vầng trăng: Vầng trăng bấy giờ là một quả trăng, chín muồi lâu rồi. Cũng là một khối tròn có cây quế đỏ, đỏ phát ớn.
(3-4-5-6): Những chi tiết của vầng trăng: Ở giữa mặt trăng hình chiếc bích, (tròn dẹt) nên khuôn nó chưa tròn, mà méo đi. Méo (méo:hình tròn lệch, sai đi với hình chuẩn.). Bên ngoài mặt trăng có hai cánh cung khép sâu lại. Bực mình vì người đời đua nhau xói (đâm thẳng vào), móc (dùng tay tìm kiếm hay lấy vật gì trong lỗ ra). Ở đây, xói móc, nghĩa bóng là châm chọc, bung ra những chuyện riêng tư của người khác. Cho nên thằng Cuội cứ đứng khom lưng.
(7-8): Vậy (dám nào), xin hỏi, ai đã là người đã đi bẻ quế?
Ở nơi đó, có một người đẹp như Hằng Nga vẫn còn đang mong mỏi, đợi chờ .

Hỏi Trăng
Hỏi Trăng

Hỏi Trăng
Hỏi Trăng

6. Đá Ông Bà Chồng

Khéo khéo bày trò tạo hoá công
Ông Chồng đã vậy lại Bà Chồng
Tầng trên tuyết điểm phơ đầu bạc
Thớt dưới sương pha đượm má hồng
Gan nghĩa dãi ra cùng chị Nguyệt
Khối tình cọ mãi với non sông
Đá kia còn biết xuân già giặn
Chả trách người ta lúc trẻ trung

Mùa xuân là một mùa trong năm, một sự chuyển biến theo chu kì thời gian. Qua thơ bài thơ, mùa xuân được chuyển dịch theo một quỹ đạo tâm lý. Với nữ sĩ, mùa xuân hừng hực cá tính, dồi dào sinh lực đã hiện lên chân thật cả khối tình:
"Gan nghĩa dãi ra cùng tuế nguyệt
Khối tình cọ mãi với non sông.
Đá kia còn biết xuân già dặn"

Chả trách người ta lúc trẻ trung. Ngắm nghía “đá ông Chồng bà Chồng”, nữ sĩ hào hứng phả tình vào đá. Và tình đá vụt hóa tình xuân. Đọc bài thơ này, Xuân Diệu phải ngợi ca rằng bà chúa thơ Nôm còn là nữ nghệ sĩ tạo hình trác tuyệt: “Một nhà điêu khắc truyền cả hơi sống, cả tình yêu vào đá, đến nỗi hòn đá cũng ửng hồng lên như có máu chạy: đá cứng lắm, nặng lắm, mà nó chẳng nằm chết như đá, nó dãn ra, nó bị cọ mài, nó già dặn tình xuân”

Qua bài thơ nữ sĩ hiện lên chẳng những là nữ sĩ tạo hình mà còn tạo tình nữa. Vừa kỳ công và cũng vừa tuyệt thú, bà chúa thơ Nôm đã biến cảm xúc mùa xuân, cái tưởng chừng khó nắm bắt trở thành vật thể gồ ghề góc cạnh, dày dày mảng khối, tươi tắn nhiều sắc màu: Đôi lứa như in tờ giấy trắng, Dẫu nghìn năm còn mãi cái xuân xanh. Tình xuân được hữu thể hóa, Có sớm ư? Thời lại có trưa... Vậy mới phơi phới, ngây ngất và hoan lạc. Xót thương thay cho những ai, vì lý do thiên tạo hoặc nhân tạo, không được thụ hưởng hạnh phúc tốt vời của đời sống thế trần, bởi: Đem cái xuân tình vứt bỏ đâu!

Đá Ông Bà Chồng
Đá Ông Bà Chồng

Đá Ông Bà Chồng
Đá Ông Bà Chồng

7. Hoạ Nhân

Vài hàng chữ gấm chạnh niềm châu,
Nghĩ tưởng năm canh nguyệt hé lầu.
Lá nhuộm thức lam thêm vẻ thẹn,
Sương pha khói biếc rộn thêm sầu.
Thẩn thơ trước viện, nhà khoe gió,
Đồng vọng bên tai, địch thét đâu,
Ướm hỏi trăng già khe khắc bấy,
Trêu nhau chi những sợi cơ cầu.

==>Theo TS. Phạm Trọng Chánh, bài thơ Họa Nhân được Hồ Xuân Hương viết khi bị mẹ cậy người mai mối gả cho thầy lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Nhân có người về Hà Tĩnh. Hồ Xuân Hương gửi bài thơ này. Cũng theo ông, thì bài “Ký mộng” của Nguyễn Du là để đáp lại bài thơ này.

Hoạ Nhân
Hoạ Nhân

Hoạ Nhân
Hoạ Nhân

8. Động Hương tích

Bầy đặt kìa ai khéo khéo phòm,
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom.
Người quen cõi Phật chen chân xọc,
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm.
Giọt nước hữu tình rơi thánh thót,
Con thuyền vô trạo cúi lom khom.
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại,
Rõ khéo trời già đến dở dom.

Bài thơ Động Hương Tích - Hồ Xuân Hương tuy chẳng chứa từ xuân nhưng nó vẫn mang đậm không khí hội xuân: “Động Hương Tích” là một địa danh chỉ thắng cảnh trung tâm quần thể di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng cả nước. Chùa Hương ở huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, từ ngày 1-8-2008 sáp nhập vào địa bàn thành phố Hà Nội. Chùa ấy là nơi khách thập phương nô nức trẩy hội mỗi dịp xuân về.

Động Hương tích
Động Hương tích

Động Hương tích
Động Hương tích

9. Vấn nguyệt

Trải mấy thu nay vẫn hãy còn,
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn?
Hỏi con Bạch Thố đà bao tuổi?
Hỏi chị Hằng Nga đã mấy con?
Đêm tối cớ sao soi gác tía?
Ngày xanh còn thẹn mấy vầng tròn.
Năm canh lơ lửng chờ ai đó?
Hay có tình riêng mấy nước non?

Ý nghĩa của bài thơ Vấn nguyệt: Đó là có thể là lời tâm sự của người con gái mới biết yêu. “Hồ Xuân Hương đã yêu Nguyễn Du rồi sau đó tự vấn lòng mình:

*(1-2)Hỏi vầng trăng muôn thuở, Trải mấy thu nay vẫn hãy còn, những câu hỏi vu vơ, vì sao vầng trăng khi khuyết lại khi tròn.
*(3-4) Hỏi con bạch thố, thỏ bạch trên cung trăng được bao nhiêu tuổi; và chị Hằng Nga bây giờ đã được mấy con…
*(5-6) Đêm tối cớ chi soi duyên nàng đến với Nguyễn Du, con nhà quyền quý ở gác tía lầu son. Khiến cho ngày xanh gặp nhau, thẹn với mặt trời đang lên
.*(7-8) Năm canh lơ lửng trằn trọc nhớ ai, hay đã có tình riêng với nước non

Vấn nguyệt
Vấn nguyệt

Vấn nguyệt
Vấn nguyệt

10. Cảnh thu

Thánh thót tầu tiêu mấy hạt mưa,
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ,
Xanh ôm cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ.

Bầu dốc giang sơn say chấp rượu.
Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ.
Ơ hay, cánh cương ưa người nhỉ,
Ai thấy, ai mà chẳng ngẩn ngơ.

Bài thơ Cảnh Thu có thể hiểu theo nghĩa đơn giản đó là:

Cảnh thu tiêu sơ, ngoạn mục, tuyệt vời. Những giọt mưa rơi giữa trời không ngớt, từng giọt, từng giọt đổ xuống từ tàu lá chuối. Dù có bút thần đi chăng nữa cũng không thể nào vẽ lên được cũng không thể nào vẽ lên được cái phong cảnh có chút đượm buồn, đơn sơ ấy. Qua hai câu tiếp theo đường nét màu sắc của bức tranh có chút thay đổi. Đó là màu sắc tốt tươi, xanh tốt của cây cổ thụ với tán cây thật tròn. Đó là con sông êm ả lặng lờ trôi, phản chiếu xuống dòng sông là màu trắng của mây trời, trôi mãi.
 

Sang đoạn tiếp, ý hiểu là người đã chếnh choáng say, cho dù đã có tửu lượng trong người, đã cạn hết bầu rượu bầu dốc, nhưng trước cảnh sắc của thiên nhiên vẫn muốn chấp rượu. Người say không chỉ vì say rượu mà say còn bởi vì cảnh đẹp của giang sơn.

Cảnh thu
Cảnh thu

Cảnh thu
Cảnh thu

Đăng ngày 11/04/2021, 1,456 lượt xem