5 động vật huyền thoại có dấu hiệu tồn tại

Động vật là một nhóm sinh vật đa bào, nhân chuẩn, được phân loại là giới Động vật trong hệ thống phân loại 5 giới. Cơ thể của chúng lớn lên khi phát triển. Hầu hết động vật có khả năng di chuyển một cách tự nhiên và độc lập. Hầu hết các ngành động vật được biết đến nhiều nhất đã xuất hiện hóa thạch vào thời kỳ Bùng nổ kỷ Cambri, khoảng 542 triệu năm trước. Động vật được chia thành nhiều nhóm nhỏ, một vài trong số đó là động vật có xương sống, động vật thân mềm, động vật Chân khớp. Bạn đã từng nghe huyền thoại về những con dã nhân, nàng tiên cá... nhưng chưa hề biết đến sự tồn tại của chúng. Những thông tin dưới đây của Tikibook sẽ một lần nữa giúp bạn tìm hiểu về những động vật huyền thoại có dấu hiệu tồn tại này nhé.

Thằn lằn Megalania Prisca

Đây là loài thằn lằn khổng lồ có bộ dạng còn to hơn cả rồng Komodo ở Indonexia. Trước kia, chúng thường lang thang ở những vùng hoang vu ở Australia và tấn công những loài thú nhỏ hơn để ăn thịt. Mặc dù Megalania Prisca được cho là đã tuyệt chủng từ lâu, thế nhưng cho đến nay vẫn có một số người dân thông báo với chính quyền rằng mình đã nhìn thấy sự tồn tại của nó. Việc thiếu gần như toàn bộ bộ xương hóa thạch kiến khóa ước tính kích thước chính xác megalania. Các ước lượng đầu tiên cho rằng chúng dài 7 m, với căn nặng tối đa khoảng 600 - 620 kg.

Tuy nhiên, nhiều kết quả mới hơn cho kết quả rất khác nhau. Năm 2002, Stephen Wroe cho rằng chúng có chiều dài tối đa 4,5 m và khối lượng 331 kg, trong khi chiều dài trung bình khoảng 3,5 m (11 ft), với cơ thể nặng 97 - 158 kg. Wroe quả quyết rằng các ước tính mà chiều dài bằng hay hơn 6 m và cân nặng nhiều tấn bị thổi phồng do sai lầm. Một nghiên cứu phát hành năm 2009 dựa trên ước tính của Wroe và phân tích 18 loài thằn lằn họ hàng ước tính tốc độ chạy nước rút là khoảng 2,6 - 3 m/s. Kích thước này được so sanh với loài cá sấu mũi dài.

Thằn lằn Megalania Prisca
Thằn lằn Megalania Prisca

Thằn lằn Megalania Prisca
Thằn lằn Megalania Prisca

Người thú Almas

Almas là một “người - thú” hoang dã sống trên dãy núi của Kazakhstan và Mông Cổ. Theo mô tả, họ phần nào tương tự như người thời tiền sử: Vóc dáng thấp bé, cơ bắp mạnh mẽ, mình đầy lông và chưa có ngôn ngữ. Lời đồn về người Almas lưu truyền vài trăm năm nay và người dân địa phương coi họ là một tộc người sống ở vùng đất này. Năm 1925, một đơn vị kỵ binh thuộc Hồng quân do Tướng Mikhail Stephanovitch Topilski chỉ huy đã đi qua một hang động tại đây. Sau khi quân đội bắn nhiều đợt vào hang vì nghi địch đang lẩn trốn ở đó thì thấy một động vật giống như người trần truồng chạy ra la hét, một lúc sau chết vì những vết thương do đạn bắn. Topilski ghi lại chi tiết, mô tả thân hình lông lá, cơ bắp mạnh mẽ và nét mặt giống với khỉ của người này.

Một trường hợp có thể tin được là Zana, một phụ nữ tộc người Almas bị một người thợ săn trong ngôi làng xa xôi ở vùng núi Zadan của Gruzia bắt sống. Zana đã được thuần hóa, sống với người thợ săn nọ và sinh được ba người con trai, đều có sức mạnh phi thường. Zana qua đời vào năm 1880 các con cũng chết từ lâu không để lại hậu duệ. Mộ của con trai út đã được khai quật và các nhà khoa học Liên Xô đã phân tích ADN của người này, thấy có nhiều điểm khác lạ so với bộ gene người.

Người thú Almas
Người thú Almas

Người thú Almas
Người thú Almas

Mèo rừng khổng lồ Nunda

Sinh vật bí ẩn hay sinh vật kỳ bí là một sinh vật hay thực vật mà sự tồn tại của chúng đã được nhắc đến nhưng chưa được phát hiện hoặc ghi nhận bởi cộng đồng khoa học. Sinh vật kỳ bí thường xuất hiện trong văn hóa dân gian và thần thoại, dẫn đến câu chuyện và niềm tin vô căn cứ về sự tồn tại của chúng. Nhiều loài động vật bị coi là đã tuyệt chủng hoặc dấu vết không rõ ràng song vẫn tồn tại dai dẳng trong nhiều nền văn hóa khác nhau. Những ví dụ điển hình là mèo rừng khổng lồ Nunda.

Trước kia, loài vật này được cho là từng tồn tại trong các khu rừng ở Tanzania. Bề ngoài chúng cũng giống như giống mèo hiện đại ngày nay, nhưng rất hung dữ và to lớn (hơn cả loài hổ). Đã có chứng cứ ghi lại về những vị tấn công của mèo khổng lồ Nunda nhằm vào con người. Đặc biệt nhất là phát hiện của thợ săn Patrick Bowen vào năm 1920, người này đã nhận ra dấu chân của Nunda và lấy được mẫu lông của nó đem về cho các nhà khoa học nghiên cứu. Kết quả, mẫu lông này có kiểu lông hoàn toàn khác lạ so với những loài động vật đã được công bố.

Mèo rừng khổng lồ Nunda
Mèo rừng khổng lồ Nunda

Mèo rừng khổng lồ Nunda
Mèo rừng khổng lồ Nunda

Người cá

Thuở còn bé, hẳn bạn đã nghe những câu chuyện cổ tích về nàng tiên cá đầy vẻ thích thú. Nếu vẫn còn phân vân không biết liệu có hay không sự tồn tại của nhân vật huyền thoại này, những chứng cứ này giải đáp nghi vấn cho bạn. Người cá bắt nguồn từ người Ilkai - một bộ lạc sinh sống ở Papua New Guinea, chúng là những sinh vật biển nhưng trông hình dạng rất giống con người. Năm 1983, hai nhà khoa học Roy Wagner và Richard Greenwell đã bắt gặp những hình ảnh cực kì quan trọng: ở một vùng biển mà họ thám hiểm, cả hai đã nhìn thấy hình ảnh những sinh vật biển kì lạ rượt đuổi cá và trông chẳng khác gì con người. Cho đến nay, câu hỏi về sự tồn tại của người cá vẫn là một câu hỏi.

Nhiều dân tộc thời xưa ở các châu lục xa cách nhau đều thờ phụng các vị thần nửa người nửa cá, trong truyền thuyết của họ luôn đề cập đến một vị thần có hình dạng như thế xuất hiện từ biển sâu. Cho đến ngày nay, vài đạo giáo trong đó có Ấn giáo và Candomble (một đạo có gốc gác Brazil-Phi châu) vẫn thờ cúng các vị thần nửa người, nửa cá. Người cá xuất hiện trong nhiều giai thoại dân gian ở khắp các châu lục từ Âu sang Á và cả châu Phi. Nhà thơ nổi tiếng thời Hi Lạp cổ đại Homer cũng đề cập đến người cá trong quyển sử thi Odyssey của ông. Thổ dân thời xưa ở Úc cũng có những giai thoại về người cá, mà họ gọi là yawkyawk, cái tên này xuất phát từ giọng hát mê hồn của người cá.

Người cá
Người cá

Người cá
Người cá

Dã nhân

Dã nhân Yowie là một sinh vật bí ẩn được cho là đã xuất hiện tại Australia. Trong nhiều thế kỷ qua, nhiều cư dân Australia truyền tai nhau câu chuyện về loài sinh vật này. Nó được biết đến từ năm 1842 và sau đó người phương Tây thường truyền tai nhau câu chuyện về những lần chứng kiến loài sinh vật lạ tên là Yowie từ năm 1881. Tiếp đến, ngày càng nhiều người trông thấy loài quái vật tương tự tại khu vực phía Nam Wales (New South Wales) hay vùng Queensland. Cho tới hiện tại ở Sydney vẫn có những địa điểm từng xảy ra hơn 3200 vụ án được cho là liên quan tới loài sinh vật Yowie này.

Loài này có đặc điểm giống chung giống như người tuyết (Yeti) ở Tây Tạng hay người rừng ở Việt Nam. Dã nhân Yowie được mô tả là có hình người nhưng hình thể to cao hơn rất nhiều, nó cao lớn hơn (từ 2,1 - 2,4 mét) Chiều dài thân vào khoảng 3m và nhiều lông và có lông màu đậm. Nó có mắt đỏ và toàn thân phát ra mùi hôi thối khó chịu. Nhiều người còn nói rằng, Yowie ăn thịt sống của các loài động vật. Dã nhân thường sống lẩn lút sâu trong rừng hoặc trên các đỉnh núi tuyết. Chính vì vậy, một số nơi còn nhầm chúng là người tuyết. Năm 1942, khi chiến tranh Nhật - Trung bùng nổ, một người đàn ông Trung Quốc tên Liu Jikuan kể lại rằng đã nhìn thấy hai dã nhân bị kéo lê bởi một đoàn quân, trông rất hoảng loạn và tội nghiệp.

Dã nhân
Dã nhân

Dã nhân
Dã nhân

Đăng ngày 26/07/2021, 344 lượt xem