Top 11 Thông tin hữu ích cần biết về loài kỳ lân biển

Cập nhật: 04/07/2022, 48 lượt xem

Kỳ lân biển là động vật ăn thịt đặc hữu của Bắc Cực, vào mùa đông chúng săn mồi dưới đáy biển ở độ sâu khoảng 1.500m bên dưới lớp băng dày. Hơn ngàn năm nay người Eskimo tại bắc Canada và Greenland vẫn săn bắt những động vật này để lấy thịt và ngà. Cùng Tikibook tìm hiểu thêm nhiều thông tin thú vị về loài động vật này nhé!

Chế độ sinh sản

Mùa giao phối của kỳ lân biển chỉ vỏn vẹn 3 tháng, bắt đầu từ tháng 3 và kết thúc vào cuối tháng 5. Tuy nhiên, quá trình trình sinh sản lại khá dài, trung bình khoảng 15,3 tháng. Con non sẽ được sinh vào thời điểm tháng 7 hoặc tháng 8 năm sau.

Kỳ lân biển là loài đẻ con, đứa con duy nhất được sinh ra sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào mệ. Kỳ lân biển con sẽ được nuôi lớn bằng sữa mẹ trong vòng 12 – 20 tháng đầu. Con non sẽ luôn bơi cạnh mẹ để học tất cả các kỹ năng cần thiết cho đến khi có thể sống độc lập, không dựa dẫm vào mẹ nữa.

Tuổi trưởng thành của con đực là từ 11 đến 13 tuổi, lúc đó chúng sẽ dài khoảng 3,9 m. Khác với giống đực, kỳ lân biển cái sẽ trưởng thành sớm hơn trong khoảng từ 5 đến 8 tuổi khi chiều dài đạt khoảng 3,4 m.

Kỳ lân biển thường tập trung thành đàn với khoảng 5-10 cá thể. Vào mùa hè, một vài nhóm hợp vào với nhau, tạo thành tập hợp lớn hơn. Đôi khi, kỳ lân biển đực cọ xát ngà của chúng với nhau trong một hoạt động được gọi là “đấu ngà” Hành vi này được cho là duy trì hệ thống phân cấp xã hội.

Chế độ sinh sản
Chế độ sinh sản

Chế độ sinh sản
Chế độ sinh sản

Ngà của kỳ lân biển

Bộ phận có hình dáng như chiếc sừng của kỳ lân biển thật ra là một chiếc răng đặc biệt. Đây là một chiếc răng nanh phát triển xoắn ốc và nhô dài ra, tương tự như ngà voi. Một con kỳ lân biển đực chỉ có duy nhất một chiếc ngà dài ra như vậy. Chiếc ngà phát triển trong suốt cuộc đời của kỳ lân biển và đạt chiều dài từ 1,5 đến 3,1 m với trọng lượng khoảng 10 kg.

Hầu hết kỳ lân biển đực đều cá ngà bên trái, chỉ có khoảng 1 trong 500 con đực phát triển ngà bên phải. Trong khi đó, chỉ có 15% kỳ lân biển cái có ngà. Ngà của con cái nhỏ hơn và không xoắn ốc. Duy chỉ có một trường hợp trước đây được ghi nhận có một cá thể kỳ lân biển cái có đến 2 chiếc ngà.

Ban đầu, các nhà khoa học cho rằng chiếc ngà phát triển như là một loại vũ khí cạnh tranh giữa các con đực. Tuy nhiên, giả thuyết gần đây lại ủng hộ cho rằng những chiếc ngà được cọ xát với nhau để truyền đạt thông tin. Trong những chiếc ngà này còn phát triển các dây thần kinh độc đáo giúp chúng nhận biết thông tin về nước biển.

Có thể chiếc ngà của kỳ lân biển là một đặc điểm hấp dẫn giới tính. Giống như bờm của sư tử đực hay bộ lông đuôi của con công trống. Nó có thể giúp xác định cấp bậc xã hội, duy trì hệ thống phân cấp thống trị, hoặc giúp các con đực non phát triển các kỹ năng cần thiết để thực hiện trong vai trò tình dục.

Ngà của kỳ lân biển
Ngà của kỳ lân biển

Ngà của kỳ lân biển
Ngà của kỳ lân biển

Săn bắt và bảo tồn

Kẻ thù của kỳ lân biển bên cạnh con người là gấu bắc cực và cá voi sát thủ (Orca). Người Inuit (Eskimo) được cho phép để săn các loài cá voi hợp pháp để phục vụ đời sống. Hầu như tất cả các phần của thịt kỳ lân biển, da, mỡ và các cơ quan được tiêu thụ. Đối với người Inuit trên đảo Greenland, kỳ lân biển cung cấp lượng vitamin C nhờ lớp mỡ và da phía ngoài, một loại vitamin được coi là hiếm ở trên vùng đất khắc nghiệt này. Nếu không có chúng, có lẽ những người Inuit đã không thể tồn tại được.

Người dân đảo Greenland được chính quyền cho phép săn kỳ lân biển, nhưng không được phép săn con cái và phải mang xác đi sau khi giết chúng. Greenland cấm xuất khẩu ngà kỳ lân biển và Liên minh châu Âu cũng cấm nhập khẩu loại hàng quý hiếm này. Tuy nhiên, nhiều người vẫn hy vọng bắn được một con kỳ lân biển có ngà có thể bán được hơn 1.000 USD. Ngoài ra, các thợ săn cũng trông chờ lấy được phần mà họ gọi là "muktuk", nằm phía trên mỡ và da, có giá trị như một món cao lương mỹ vị truyền thống.

Thời Trung cổ, ngà kỳ lân biển có giá trị bằng vàng tương đương 10 lần khối lượng nó. Nữ hoàng Elizabeth I từng được tiến cống một ngà được chạm khắc đá quý với giá trị 10.000 bảng Anh (khoảng 1,5 đến 2,7 triệu bảng Anh năm 2007), đủ để mua một tòa lâu đài. Hiện nay một đoạn ngà dài 30 cm cũng có giá đến 125 USD. Trong những năm gần đây, trung bình mỗi năm khoảng 500 con kỳ lân biển ở vùng Bắc Cực Canada bị giết.

Kỳ lân biển được xem là một trong các động vật có vú biển Bắc cực dễ bị tổn thương nhất với biến đổi khí hậu. Kỳ lân biển được đưa vào nuôi nhốt có xu hướng chết vì nguyên nhân tự nhiên.

Săn bắt và bảo tồn
Săn bắt và bảo tồn

Săn bắt và bảo tồn
Săn bắt và bảo tồn

Đặc điểm ngoại hình

Kỳ lân biển là loài cá cỡ trung bình. Đối với cả hai giới, kích thước cơ thể có thể dao động từ 3,95 đến 5,5 m; con đực có chiều dài trung bình là 4,1 m, lớn hơn một chút so với con cái, với chiều dài trung bình khoảng 3,5 m. Trọng lượng cơ thể của kỳ lân trưởng thành dao động từ 800 đến 1600 kg.

Kỳ lân biển có phần da lưng màu sẫm với nhiều đốm nâu và có phần bụng màu trắng sáng. Màu da sẫm, tối màu khi mới sinh ra và ngày càng nhạt màu hơn khi chúng càng lớn hơn. Các mảng trắng phát triển trên phần bụng và ở cơ quan sinh dục của chúng ở tuổi trưởng thành. Màu da của những con kỳ lân biển già gần như trắng tinh. Kỳ lân biển không có vây lưng, có thể là sự tiến hóa để thích ứng với việc bơi dễ dàng dưới các lớp băng tuyết. Đốt sống cổ thẳng, giống như những loài động vật có vú trên đất liền thay vì được hợp nhất với nhau như hầu hết các loài cá voi.

Đặc điểm dễ nhận biết nhất của loài kỳ lân đực là một chiếc năng dài mọc lên từ hàm trên và vượt qua môi tạo thành hình xoắn ốc. Nanh phát triển trong suốt cuộc đời, đạt chiều dài khoảng 1,5 đến 3,1 m; rỗng và nặng khoảng 10 kg. Với tỉ lệ 1:500, cứ 500 con đực thì có một con có hai nanh. Chỉ có khoảng 15% số lượng con cái phát triển nanh, mà thường nhỏ hơn so với con đực và ít được chú ý hơn. Nanh là cơ quan cảm giác với hàng triệu cấu trúc thần kinh. Chúng được sử dụng để giúp xác định vị trí của con mồi và thể hiện sự thống trị của con đực. Các nền văn hóa bản địa cho rằng, những chiếc ngà của chúng có sức mạnh kỳ diệu.

Đặc điểm ngoại hình
Đặc điểm ngoại hình

Đặc điểm ngoại hình
Đặc điểm ngoại hình

Phân bố

Kỳ lân biển phân bố chủ yếu ở Đại Tây Dương và Bắc Băng Dương. Chúng thường được ghi nhận xuất hiện tại phía bắc vịnh Hudson, eo biển Hudson, vịnh Baffin; ngoài khơi bờ biển phía đông Greenland; và trong một dải chạy về phía đông từ cuối bắc đảo Greenland vòng phía đông Nga (170° Đông).

Hiện tại số lượng kỳ lân biển ước tính còn khoảng 75.000 cá thể. Phần lớn tập trung trong các vịnh hẹp bắc Canada và phía tây Greenland.

Kỳ lân biển là một loài di cư. Trong những tháng mùa hè, chúng di chuyển đến gần bờ biển hơn, thường là theo từng nhóm từ 10-100 con. Khi bắt đầu đóng băng vào mùa đông, chúng di chuyển xa bờ, và cư trú trong vùng băng dày đặc, sống dựa vào các rãnh và hố băng nhỏ. Khi mùa xuân đến, những rãnh biến thành kênh và kỳ lân biển trở lại các vùng vịnh, bờ biển cũ.

Vào mùa đông, giữa tháng 11 và tháng 3, hầu hết các kỳ lân, khoảng 70.000 cá thể di cư đến vình Baffin và eo biển Davis nằm giữa Canada và Greenland và ở đó trong vòng 6 tháng. Các nhóm khác dàng mùa hè của mình trong vịnh hẹp dọc theo đảo East Baffin, vịnh Hudson, phía Tây và Đông Greenland. Quá trình di chuyển của chúng kéo dài khoảng hai tháng.

Phân bố
Phân bố

Phân bố
Phân bố

Một số thông tin thêm về loài Kỳ Lân Biển có thể bạn chưa biết

Một số thông tin thêm về loài Kỳ Lân Biển có thể bạn chưa biết:

  • Kỳ lân biển là một trong những động vật Bắc Cực dễ bị đe dọa tính mạng nhất với biến đổi khí hậu do thu hồi độ bao phủ của băng trong môi trường sống của chúng ở khu vực phía bắc.
  • Kỳ lân biển và cá voi trắng là họ hàng thân thiết.
  • Không có con kỳ lân biển nào bị nuôi nhốt. Vào những năm 60 và 70, đã có một số nỗ lực trong việc duy trì điều kiện nuôi nhốt chúng nhưng tất cả đã chết trong vòng vài tháng.
  • Mặc dù bề ngoài cứng rắn, ngà của kỳ lân biển có khả năng nhạy cảm đáng nể. Với 10 triệu mối liên kết thần kinh nhỏ xíu chạy từ trung tâm thần kinh của ngà tới bề mặt bên ngoài, chiếc ngà giống như một cái màng có bề mặt ngoài cực nhạy và có thể phát hiện những thay đổi rất nhỏ trong nhiệt độ, áp suất nước biển. Vì kỳ lân biển có thể phát hiện những thay đổi nhỏ trong nước, chúng có thể nhận ra độ mặn của nước cũng như những dao động xung quanh con mồi, và điều này sẽ giúp chúng sống sót trong môi trường băng giá Bắc cực.
  • ...

Một số thông tin thêm về loài Kỳ Lân Biển có thể bạn chưa biết
Một số thông tin thêm về loài Kỳ Lân Biển có thể bạn chưa biết

Một số thông tin thêm về loài Kỳ Lân Biển có thể bạn chưa biết
Một số thông tin thêm về loài Kỳ Lân Biển có thể bạn chưa biết

Chế độ ăn

Kỳ lân biển có một chế độ ăn uống tương đối hạn chế. Con mồi của nó chủ yếu bao gồm cá bơn Greenland, cá tuyết vùng cực, cá tuyết Bắc cực, tôm và mực ống Gonatus. Những loại thức ăn khác tìm thấy trong dạ dày của chúng bao gồm cá wolffish, cá capelin, trứng cá skate và đôi khi có cả đá (chúng vô tình nuốt vào bụng khi kiếm ăn ở đáy). Kỳ lân biển còn là những kẻ săn mồi đặc biệt, chúng ăn rất nhiều trong suốt quá trình di cư.

Kỳ lân biển có cách thức săn mồi khá đặc biệt, chúng sẽ sử dụng sóng âm để điều hướng và săn tìm con mồi. Chúng có một bộ phận hoạt động như ống kính âm thanh được gọi là melon. Khi phát ra tiếng kêu, tiếng huýt sáo được vọng lại, ngay lập tức khu vực melon của chúng sẽ phân tích dữ kiện này, từ đó đưa ra thông tin về tình hình con mồi xung quanh.

Có trọng lượng cơ thể lên tới 900kg nên chúng ăn rất nhiều trong suốt chuyến di cư của mình. Món ăn ưa thích của chúng là cá bơn Greenland, cá tuyết bắc cực, mực, tôm…

Chế độ ăn
Chế độ ăn

Chế độ ăn
Chế độ ăn

Phân loại và di truyền

Kỳ lân biển (Monodon monoceros) (tiếng Anh: Narwhal) là một loài động vật có vú sống ở biển kích cỡ trung bình thuộc phân bộ Cá voi có răng (Odontoceti), sống quanh năm ở vùng Bắc Cực. Cùng với cá voi trắng, chúng là hai loài duy nhất còn sinh tồn trong Họ Kỳ lân biển (Monodontidae). Đặc trưng của kỳ lân biển là con đực có một chiếc ngà dài, thẳng, có rãnh xoắn ở hàm trái phía trên của chúng (do đó mới được gọi là "kỳ lân").

Chúng được tìm thấy chủ yếu ở vùng biển Bắc Băng Dương thuộc Canada và xung quanh đảo Greenland, nhưng hiếm khi dưới vĩ tuyến 65° Bắc.

Kỳ lân biển có quan hệ rất gần với cá voi trắng. Cùng với nhau, chúng là 2 loài duy nhất còn lại của họ Monodontidae (đôi khi còn gọi là họ Cá voi trắng). Họ Monodontidae mô tả có kích thước trung bình (chiều dài từ 3–5 m), trán dạng dưa hấu, mõm ngắn, và không có vây lưng thực sự.

Monodontidae (họ Cá voi trắng) cùng với họ Delphinidae (họ cá heo đại dương) và họ Phocoenidae (họ cá heo chuột) hợp lại thành siêu họ Delphinoidea.

Các bằng chứng di truyền cho thấy họ cá heo chuột có quan hệ chặt chẽ với họ cá voi trắng hơn là họ cá heo đại dương, và hai họ này tạo thành một nhánh riêng biệt tách ra từ siêu họ Delphinoidea trong vòng 11 triệu năm qua

Phân loại và di truyền
Phân loại và di truyền

Phân loại và di truyền
Phân loại và di truyền

Thông tin mô tả

Kỳ lân biển tên tiếng Anh là narwhal hoặc narwhale, tên khoa học là Monodon monocerus. Đây là một loài cá voi cỡ trung bình, chúng nổi tiếng với hình dáng như có một chiếc sừng dài xoắn ốc trước đầu, điều này khiến nhiều người liên tưởng đến những con kỳ lân trong thần thoại. Đây cũng là nguyên nhân khiến chúng có tên là kỳ lân biển.

Từ narwhal xuất phát từ tiếng Bắc Âu. Trong đó, nar có nghĩa là xác chết, kết hợp với whal có nghĩa là cá voi. Kỳ lân biển có tên này bắt nguồn từ màu xám trắng trên đốm của cá voi khiến chúng có phần giống với một xác chết bị chết đuối. Đối với tên khoa học của kỳ lân biển, Monodon monocerus xuất phát từ cụm từ Hy Lạp có nghĩa là "một răng một sừng". Vì sao là một răng một sừng thì mời các bạn tiếp tục khám phá những funfact thú vị về “chiếc sừng” của kỳ lân biển sau.

Thông tin mô tả về loài kỳ lân biển:

  • Tên thường gọi: Kỳ lân biển (Narwhals)
  • Tên khoa học: Monodon monoceros
  • Lớp: Động vật có vú
  • Phân bố: Vùng Bắc Cực
  • Tuổi thọ: Kỳ lân biển có thể sống đến 50 năm.
  • Kích thước: Chiều dài khoảng 5,1 m
  • Cân nặng: Khối lượng lên tới 940 kg
  • Trạng thái bảo tồn: Sắp bị đe dọa

Thông tin mô tả
Thông tin mô tả

Thông tin mô tả
Thông tin mô tả

Kỳ lân biển trong văn hóa con người

Kỳ lân biển là động vật ăn thịt đặc hữu của Bắc Cực, vào mùa đông chúng săn mồi dưới đáy biển ở độ sâu khoảng 1.500m bên dưới lớp băng dày. Hơn ngàn năm nay người Eskimo tại bắc Canada và Greenland vẫn săn bắt những động vật này để lấy thịt và ngà.

Một số người châu Âu thời trung cổ tin rằng ngà kỳ lân biển là sừng của kỳ lân trong thần thoại.

Sừng kỳ lân (trong thần thoại) được coi là có sức mạnh ma thuật, chẳng hạn như khả năng để chữa bệnh ngộ độc và bệnh trầm uất, những người Viking và các lái buôn phương bắc chớp lấy cơ hội này đã có thể bán chúng với giá trị qui ra vàng gấp nhiều lần trọng lượng chính chiếc ngà. Ngà còn được sử dụng để làm ly mà người ta tin rằng có thể hóa giải bất kì chất độc nào.

Herman Melville đã viết một phần về kỳ lân biển trong tác phẩm Moby Dick, trong đó ông tuyên bố một ngà kỳ lân biển treo trong "một thời gian dài" ở lâu đài Windsor sau khi Sir Martin Frobisher đã trao nó cho Nữ hoàng Elizabeth. Kỳ lân biển cũng xuất hiện trong Hai vạn dặm dưới đáy biển của Jules Verne.

Kỳ lân biển trong văn hóa con người
Kỳ lân biển trong văn hóa con người

Kỳ lân biển trong văn hóa con người
Kỳ lân biển trong văn hóa con người

Tập tính sinh hoạt

Kỳ lân biển có thể ở dưới nước 25 phút và lặn 1500 m trước khi nổi lên khỏi mặt nước. Chúng thường di chuyển theo cụm hoặc bầy đàn từ 2 đến 10 cá thể để đi kiếm ăn. Thậm chí, đôi khi còn tụ tập lại thành đàn hàng trăm, hàng ngàn con nếu tại khu vực đấy có nhiều thức ăn.

Kỳ lân biển là loại vật linh động, chúng di cư theo mùa và chỉ trở về khu vực “lý tưởng” của mình vào mỗi năm. Đến mùa đông, để tìm kiếm thức ăn,chúng sẽ di chuyển về phía nam – khu vực có vùng nước nông, gần bờ biển. Và khi trời vào hè, chúng lại quay về phía bắc – nơi có những vùng nước sâu được phủ đầy tuyết trắng.

Kỳ lân biển có thể sống tới 50 năm. Chúng ẩn mình dưới băng hoặc ở dưới nước trong thời gian dài để thoát khỏi kẻ săn mồi, thay vì chạy trốn. Kẻ thù trong tự nhiên của kỳ lân biển là gấu bắc cực, hải mã, cá voi sát thủ và cá mập Greenland. Bên cạnh đó, con người cũng là mối đe dọa với lượng loài sinh vật này vì các hoạt động săn bắt đang diễn ra quá mức cho phép.

Tập tính sinh hoạt
Tập tính sinh hoạt

Tập tính sinh hoạt
Tập tính sinh hoạt

Bài viết hay đừng bỏ lỡ