Top 11 Thông tin thú vị nhất về loài vượn

Cập nhật: 28/06/2022, 37 lượt xem

Vượn loài vật rất thông minh và gần gũi với con người. Những điều thú vị về loài vật này rất nhiều, cùng Tikibook tìm hiểu thêm về loài động vật này nhé.

Cách đi lại của loài vượn

Vượn là loài đặc hữu của những khu rừng rậm Nam Á, chúng có khả năng thích nghi một cách hoàn hảo với cuộc sống ở trên cây, và rất hiếm khi chúng xuống đất. Vượn có bàn tay khỏe, hình móc để nắm bắt các cành cây dễ dàng; cánh tay dài “quá khổ” giúp vượn vươn được ra xa; và cùng với đó là đôi chân dài, khỏe, linh hoạt tạo cho chúng lực đẩy và đồng thời cũng để nắm bắt các cành cây khác. Khớp vai của vượn thậm chí còn có cấu tạo cho phép chúng đặc biệt thích nghi với phạm vi chuyển động rộng lớn khi chuyền cành.

Có một loại vận động ở vượn, được gọi là vận động bằng cánh tay, có thể giúp vượn di chuyển qua rừng với vận tốc lên đến 56 km/h, vượt qua khoảng cách rộng chừng 15 m chỉ với một lần đu duy nhất. Sự vận động bằng cánh tay cũng mang lại cho vượn một lợi thế độc đáo giúp chúng vươn ra lấy được trái cây mọc ở phần ngọn của cành, cũng góp phần hạn chế sự cạnh tranh với các loài động vật khác loại thức ăn ưa thích của chúng.

Khi vượn đi bộ, dù dọc theo cành cây hay trong những trường hợp hiếm hoi khi chúng đi trên mặt đất, chúng thường đi bằng hai chân với cánh tay vung lên trên đầu để giữ thăng bằng. Vượn là loài linh trưởng phi nhân đi bằng hai chân mà thường được nghiên cứu nhiều nhất cho thuyết tiến hóa về việc con người có thể đi bằng hai chân.

Cách đi lại của loài vượn
Cách đi lại của loài vượn

Cách đi lại của loài vượn
Cách đi lại của loài vượn

Thông tin khái quát

Họ Vượn (danh pháp khoa học: Hylobatidae) là một họ chứa các loài vượn. Các loài hiện còn sinh tồn được chia ra thành 4 chi, dựa trên số lượng nhiễm sắc thể lưỡng bội của chúng: Hylobates, Hoolock, Nomascus, và Symphalangus. Loài tuyệt chủng Bunopithecus sericus là vượn hay linh trưởng giống như vượn, cho tới gần đây vẫn được coi là có liên hệ gần với vượn mày trắng. Các loài vượn còn sinh tồn sinh sống trong các rừng già nhiệt đới và cận nhiệt đới từ đông bắc Ấn Độ tới Indonesia, bao gồm cả các đảo như Sumatra, Borneo và Java, và về phía bắc tới miền Hoa Nam.

Còn được gọi là vượn nhỏ hay vượn loại nhỏ, loài vượn thuộc họ này khác với các loài vượn lớn thuộc họ Người như tinh tinh, khỉ đột, đười ươi và con người ở chỗ tầm vóc nhỏ hơn, có mức độ dị hình giới tính thấp, không làm tổ và ở một số chi tiết cơ thể nhất định, trong đó chúng giống với các loài khỉ thường hơn là giống với vượn lớn. Các loài vượn nhỏ cũng kết đôi vĩnh cửu, không giống như các loài vượn lớn. Loài vượn nhỏ cũng vượt trội trong loài thú khi di chuyển bằng cách chuyền cành bằng hai tay, đu từ cành này sang cành khác có thể với khoảng cách lên tới 15m, với vận tốc cao tới 56 km/h. Chúng cũng có thể nhảy xa tới 8m, và đôi khi đi lại bằng hai chân với hai tay giơ lên để giữ thăng bằng. Chúng nhanh nhẹn và uyển chuyển nhất trong số các loài thú sống trên cây cao mà không biết bay.

Tùy từng loài và phụ thuộc vào giới tính mà bộ lông của vượn có thể có màu từ nâu sẫm tới nâu nhạt, có khi đốm loang màu đen hay trắng. Vượn toàn trắng rất hiếm, trong số các loài vượn có vượn mực, vượn tay trắng, vượn mày trắng. Vượn mực, loài vượn to lớn nhất, được phân biệt bởi 2 ngón chân trên mỗi chân hợp lại

Thông tin khái quát
Thông tin khái quát

Thông tin khái quát
Thông tin khái quát

Các mối đe dọa đến sự sống còn của loài vượn

Những cư dân sống trên cây mang tính biểu tượng này đang nằm trong số những loài linh trưởng bị đe dọa nhất trên Trái đất. Sinh cảnh của chúng dần biến mất nhanh chóng, vượn cũng thường bị bắt và bán làm vật nuôi, hoặc bị giết để chế biến thành thuốc trong y học cổ truyền. Nhiều loài vượn đã được liệt vào nhóm loài nguy cấp (EN) và cực kỳ nguy cấp (CR).

Trong môi trường nuôi nhốt, Vượn cũng là loài động vật hoang dã cần có các điều kiện đặc biệt về môi trường sống để đảm bảo rằng nhu cầu về thể chất và hành vi của chúng được đáp ứng. Nếu không được cung cấp một sinh cảnh phù hợp cho phép vượn thể hiện hành vi tự nhiên của mình, chúng sẽ phải chịu đựng một cuộc sống với tình trạng phúc lợi rất kém.

Một số ví dụ về quản lý động vật nuôi nhốt thích hợp đối với loài vượn có thể kể đến các vườn thú ở Melbourne, Pittsburgh, London và Twycross.

Tại đây, vượn được sống trong một khu chuồng khá tốt phỏng theo môi trường sống của chúng ngoài tự nhiên, chúng được cung cấp nhiều cơ hội leo trèo và chuyền cành, cùng với các hoạt động làm giàu phong phúc cho phép vượn được thể hiện các hành vi tự nhiên của mình.

Các mối đe dọa đến sự sống còn của loài vượn
Các mối đe dọa đến sự sống còn của loài vượn

Các mối đe dọa đến sự sống còn của loài vượn
Các mối đe dọa đến sự sống còn của loài vượn

Các loài vượn

Nổi tiếng ở Madagasca chính là vượn cáo tổng cộng gồm trên 100 loài, phần lớn chúng ăn nhiều loại quả và lá còn một số loài chỉ chuyên ăn một loại thức ăn.. Có ở cả rừng lá rộng, rừng ngập mặn, tuy nhiên đang bị đe dọa. Vượn cáo bị đe dọa bởi một loạt các vấn đề môi trường, bao gồm phá rừng, săn bắn thịt rừng, bắt sống để buôn bán thú cưng kỳ lạ, và biến đổi khí hậu.

Loài khác là vượn bạc má (lông đen má trắng) hay còn gọi là doọc, tu quyền, vượn hót,... Danh pháp khoa học là Nomacus leucogenys, thuộc bộ linh trưởng. Loại này có chân tay khá dài, đực thân phủ lông đen, hai má có lông trắng. Cằm còn có thêm một vệt trắng, riêng con cái lại có màu lông vàng sẫm. Mặt còn có lông mọc ngang, có vệt màu xám ở đỉnh đầu.

Một số cá thể lại có vòng tròn trắng quanh mặt để nhận diện. Cân nặng của loài này khoảng 7-12kg với chiều cao từ 74cm đến khoảng 90cm.

Đặc điểm sinh sản tương tự tập tính chung của loài. Ban ngày kiểm ăn, đêm ngủ trên cây, sống ở rừng lá rộng, nơi có các cây gỗ lớn. Loài này có nhiều ở Lai Châu, Hòa Bình, Thanh Hóa,... của nước ta.

Ngoài ra còn có loại má vàng, chỉ khác là lông má màu vàng cam/ thẫm. Một số cá thể có phần tay và lưng màu vàng/ nâu be chải ngược. Kích thước nhỏ hơn so với bạc má, chỉ cao 50-60 cm và nặng nhất là 1 yến. Campuchia xuất hiện nhiều, còn ở Việt Nam thì chủ yếu ở khu vực Quảng Trị, Nghệ An, Quảng Bình,...

Con vượn cụt đuôi (đen tuyền) với danh pháp khoa học Nomacus concolor. Dân tộc gọi chúng là tu chao vật, chuồi,... là loài không có đuôi. Giống đực sở hữu bộ lông đen tuyền, điểm một vài sợi góc mồm màu trắng. Đặc biệt đầu còn có mào nhỏ bằng lông dựng ngược lên. Giống cái có màu vàng da bò, ngực và bông có lông đen, nâu thẫm. Tập tính kiểm ăn trên cây vào sáng và chiều, sáng sớm cất tiếng hú.

Các loài vượn
Các loài vượn

Các loài vượn
Các loài vượn

Vượn trong văn hóa truyền thống

Việt Nam: Con vượn có mặt trong văn chương truyền khẩu của người Việt như trong bài dân ca "Lý qua đèo" ở Huế hay "Ăn ở trong rừng" thuộc Quan họ Bắc Ninh. Ca trù có điệu xẩm huê tình cũng nhắc đến vượn. Ca dao thì có câu nhắc đến vượn để trỏ ý xa xôi, hoang dã như trong câu ca dao miền Nam:

"Má ơi! Đừng gả con xa

Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu."

Tục ngữ về vượn có câu: "Vượn lìa cây có ngày vượn rũ."

Trong văn học thì hai tác phẩm lớn là Truyện Kiều và Lục Vân Tiên đều có nhắc tới vượn, nhất là tiếng hú (còn gọi là hót) của chúng. Trong tín ngưỡng Tứ phủ hình bóng con vượn hiện ra biểu tượng cho miền núi hoang sơ khi vượn ra mắt dâng cúng hoa quả.

Trung Hoa: Vượn có mặt ở vùng Hoa Nam ít nhất là cho tới thời nhà Tống. Khoảng thế kỷ 14 trở đi vì hệ sinh thái bị con người phá hoại nên loài vượn dần vắng bóng. Văn chương Trung Hoa thời cổ cho con vượn là "quý phái", ví như "quân tử" của rừng xanh trong khi giống khỉ vàng bị thức ăn của con người mua chuộc. Đạo Lão thì thêu dệt tính chất huyền bí cho loài vượn và cho rằng chúng có thể sống tới nghìn năm và biến thành người. Mỹ thuật Trung Hoa ghi lại hình dáng con vượn từ thế kỷ 3-4 TCN (thời nhà Chu). Chúng còn là đề tài cho họa sĩ thời nhà Tống và đầu thời nhà Nguyên như Dịch Nguyên Cát và Mục Khê Pháp Thường vẽ lại rất trung thực.

Nhật Bản: Qua ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, mô típ Thiền "vượn bắt ánh trăng trong nước" cũng đã trở thành phổ biến trong hội họa Nhật Bản, mặc dù không có loài vượn nào sống trong tự nhiên tại Nhật Bản

Vượn trong văn hóa truyền thống
Vượn trong văn hóa truyền thống

Vượn trong văn hóa truyền thống
Vượn trong văn hóa truyền thống

Tập tính sinh sản

Mỗi con sẽ có một khu vực cho mình gọi là lãnh thổ riêng đánh dấu bằng tiếng hú. Trong bán kính 1km có thể nghe được tiếng hú của chúng. Tiếng hú ấy có nhiều ý nghĩa, một là để tìm bạn tình, hai là thông báo lãnh thổ. Nếu giống cái nghe tiếng hú ấy có cảm tình thì sẽ tìm đến giao phối.

Thường sẽ giao phối với nhau trong 3 ngày, mỗi loài có đời sống riêng. Dễ thấy sống thành cặp đực/ cái hoặc là gia đình 2-4 cá thể. Khi đạt 8-9 tuổi thì bắt đầu sinh sản và đẻ như người là mỗi năm 1 lửa và chỉ 1 con. Thời gian mang thai ngắn hơn người, khoảng 5-7 tháng.

Mới sinh ra cá thể non nớt mang màu lông sáng giống với mẹ của chúng. Khi được 1-2 tuổi lông mới đổi màu thành đen tuyền. Thức ăn của loài này là trứng chim, trái cây các loại, các chồi non trên cây. Thậm chí là côn trùng và các con chim non,...

Tập tính sinh sản
Tập tính sinh sản

Tập tính sinh sản
Tập tính sinh sản

Cơ thể học

Một đặc điểm trong cơ thể loài vượn là khớp xương cầu ổ (ball and socket joint) ở cổ tay cho phép khớp xương đó chuyển động theo hai trục. Ưu điểm này khiến vượn không cần phát triển sức mạnh tuyệt đối ở vai và thân trên. Khớp xương vai cũng vì vậy giảm bớt sức giãn kéo khi vượn đu chuyền. Tỷ lệ tay chân so với thân mình của vượn cao hơn các loài thú khác nên tầm với của vượn khá dài. Khoảng cách giữa ngón thứ nhất (ngón cái) và ngón thứ hai (ngón trỏ) cũng lớn, giúp vượn nắm chắc.

Lông vượn thường là màu đen, xám, ánh nâu, có thể thêm đốm hay vệt màu trắng trên tay, chân và mặt. Vượn đực đôi khi có các vệt sẫm màu lẫn trong mảng màu trắng. Một số loài có bướu lớn ở cổ họng với chức năng làm hộp cộng hưởng khi hú. Kích thước bướu có thể to gần bằng đầu con vật.

Hộp sọ và răng vượn tương tự như ở các loài vượn lớn, còn mũi của chúng thì giống như mũi của tất cả các loài linh trưởng mũi hẹp.

Cơ thể học
Cơ thể học

Cơ thể học
Cơ thể học

Các loài vượn quý Việt Nam có nguy cơ tuyệt chủng

Theo báo báo, trong số 6 loài vượn Việt Nam có đến 3 loài gồm vượn cao vít (Nomascus nasutus), vượn đen tuyền Tây Bắc (Nomascus concolor) và vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) “lâm nguy” nhất – đang bên bờ vực tuyệt chủng, còn “dân số” của 3 loài còn lại gồm vượn đen má trắng Phương Nam (Nomascus siki), vượn má vàng Phương Bắc (Nomascus annamensis) và vượn má vàng Phương Nam (Nomascus gabriellae) cũng đang sụt giảm.

Theo FFI, săn bắn và mất môi trường sống là hai nguyên nhân chính làm số lượng các loài vượn Việt Nam sụt giảm. Ngay cả trong các khu bảo tồn vượn, tình trạng khai thác gỗ bất hợp pháp, mở rộng canh tác nông nghiệp và phát triển cơ sở hạ tầng – như xây đập thủy điện – vẫn diễn ra, đó là chưa kể việc mở rộng các tuyến đường mới sẽ tạo điều kiện cho bọn săn bắn trộm đột nhập vào các khu bảo tồn.

Hiện nay, mặc dù phần lớn các loài vượn sinh sống trong các khu vực được bảo vệ, nhưng một thực tế rõ ràng là số lượng của chúng đang bị suy giảm nghiêm trọng tới mức có thể “biến mất” trong một tương lai không xa. Các lòa vượn quý có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam:

  • Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) được tìm thấy ở miền bắc Việt Nam và Lào, được phân loại ở mức “nguy cấp” trong Sách đỏ của Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN).
  • Vượn má vàng phương nam (Nomascus gabriellae) được tìm thấy ở Việt Nam và Campuchia, được phân loại ở mức “cực kỳ nguy cấp” của IUCN.
  • ...

Các loài vượn quý Việt Nam có nguy cơ tuyệt chủng
Các loài vượn quý Việt Nam có nguy cơ tuyệt chủng

Các loài vượn quý Việt Nam có nguy cơ tuyệt chủng
Các loài vượn quý Việt Nam có nguy cơ tuyệt chủng

Phân loại và thức ăn của vượn

Con vượn còn được gọi là khỉ dạng người loại nhỏ. Điểm khác biệt giữa vượn so với các loài khác trong bộ linh trưởng là chúng không có đuôi. Chúng có đôi tay rất dài, các ngón tay dài cũng dài và nhỏ. Chúng hầu như ở trên cây và rất ít khi xuống mặt đất.

Trên thế giới có khoảng 11 loài vượn khác nhau.Ở tại Việt Nam có 5 loài vượn hiện đang sinh sống ngoài môi trường tự nhiên. Tốc độ sinh trưởng của vượn khá chậm, chúng rất dễ bị tuyệt chủng với nạn săn bắn ở Việt Nam. Loài vượn khác với các loài như khỉ đột, tinh tinh….. Chúng có tầm vóc nhỏ với cơ thể đặc trưng nhất định như vận động bằng đôi tay, di chuyển từ cây này qua cây khác bằng cách đu dây.

Chúng kiếm ăn trên cây và thức ăn của vượn là các loại quả chín. Vượn sống theo từng nhóm gia đình bao gồm con đực và con cái đã trưởng thành. Vượn có tập tính phân chia vùng lãnh thổ để sinh sống. Các gia đình vượn sẽ đánh dấu lãnh thổ của chúng bằng cách hợp xướng để thông báo cho cá thể những con vượn khác.

Phân loại và thức ăn của vượn
Phân loại và thức ăn của vượn

Phân loại và thức ăn của vượn
Phân loại và thức ăn của vượn

Tập tính sinh hoạt

Vượn là động vật sinh sống thành bầy kiểu xã hội tập thể. Mỗi đàn chiếm cứ lấy một khu vực và sẵn sàng bảo vệ lãnh thổ bằng cách kêu hú hoặc phô trương. Tiếng vượn hú có thể vang vọng đến 1km, thường là tiếng kêu của cặp vượn phối ngẫu. Đôi khi vượn con cũng tham gia.

Khi vượn hú riêng lẻ thì thông thường là vượn đực (họa hoằn mới là con cái) kêu hú để tìm bạn, mời gọi bạn tình hoặc thông báo khu vực chiếm hữu. Nếu ưa thích tiếng hú thì vượn khác phái sẽ tìm gặp, kết thân rồi giao hợp. Thời gian giao hợp có thể kéo dài tới 3 ngày với nhiều lượt giao cấu. Tiếng đôi vượn đùa hót trong thời điểm này khiến chúng dễ bị thợ săn tìm bắt, cung cấp thịt cho thị trường mua bán động vật hoang dã, trong đó có ngành y dược dân gian thu mua nhiều bộ phận. Vì mỗi loài vượn có tiếng hú riêng nên qua tiếng hú, khoa học có thể nhận dạng từng loài và xác định môi trường sinh sống của chúng.

Các khớp xương cầu ổ (tiếng Anh: ball and socket joint) ở tay vượn cho phép chúng đu chuyền trên cây cao rất nhanh và chính xác. Tuy nhiên nếu lỡ tuột tay hoặc khi cành gãy thì vượn dễ bị chấn thương; khoa học ước tính thì trung bình mỗi con vượn gãy xương ít nhất một lần trong cuộc đời.

Tập tính sinh hoạt
Tập tính sinh hoạt

Tập tính sinh hoạt
Tập tính sinh hoạt

Tập tính bầy đàn của vượn

Vượn là loài động vật đơn giao, cũng là một đặc điểm hiếm có trong số các loài linh trưởng. Vượn sống trong các nhóm gia đình bao gồm một cặp trưởng thành và con non của chúng. Gia đình vượn sẽ vạch ra một phạm vi lãnh thổ và bảo vệ nó bằng âm thanh, những tiếng gọi ám ảnh mà có thể vang xa hàng dặm khắp khu rừng. Các cặp đôi, hay thậm chí là cả gia đình, sẽ cùng nhau hót những bài ca dài và phức tạp. Một số loài thậm chí còn có phần cổ họng lớn để khuếch đại tiếng gọi của mình.

Vượn sử dụng đa dạng các âm giọng khác nhau tương tự như ngôn từ mà chúng ta nói hàng ngày, bao gồm những tiếng cảnh báo về kẻ săn mồi cụ thể, chẳng hạn như loài báo và rắn. Ví dụ, hổ và báo được vượn báo hiệu bằng âm giọng nhất định chỉ liên quan đến những con mèo lớn, trong khi đại bàng và diều hâu được báo hiệu bằng một âm thanh riêng biệt chỉ liên quan đến chim ăn thịt. Cũng có một số biến thể nhẹ được phát hiện giữa các tiếng gọi này, cho thấy rằng vượn đôi khi có thể truyền đạt những loài cụ thể nào mà chúng đã phát hiện ra.

Tiếng gọi của vượn rất cụ thể, chúng thậm chí còn có tín hiệu để báo cho các cá thể khác biết khi kẻ săn mồi đứng yên hay di chuyển. Các cá thể vượn cái cũng cho thấy chúng có vốn “từ” phong phú hơn vượn đực. Con đực có thể nói rằng “Chúng ta đang bị tấn công", nhưng những con cái mới là thủ lĩnh nên chúng sẽ đưa ra chỉ dẫn về những việc cần phải làm. Ví dụ, chúng có thể nói rằng “Con báo! Leo lên cao hơn”.

Có một điều còn thú vị hơn nữa, vượn có thể giữ cho âm thanh của các tiếng gọi của chúng cảnh báo về động vật săn mồi nằm ngoài phạm vi/khả năng nghe của kẻ săn mồi bằng cách sử dụng tần số âm thanh thấp. Điều này cho phép vượn phát ra âm thanh báo động cho nhau mà không để lại những manh mối khiến kẻ săn mồi có thể đoán được vị trí của chúng.

Tập tính bầy đàn của vượn
Tập tính bầy đàn của vượn

Tập tính bầy đàn của vượn
Tập tính bầy đàn của vượn